ASXHPortalViewLongForm
Longform

Nhận thức tốt sẽ hình thành “văn hóa BHXH”

Shared facebook

* Trong thời gian qua, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo rất kịp thời trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội- coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, nhằm góp đảm bảo ổn định chính trị-xã hội đất nước. Ông nhận định thế nào về hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta?

- Ông Đinh Ngọc Quý:

Trước hết, an sinh xã hội được tiếp cận ở Việt Nam khá rộng, bao gồm nhiều nhóm chính sách khác nhau. Theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, thì các trụ cột của an sinh xã hội bao gồm: Việc làm, thu nhập và giảm nghèo; BHXH; trợ giúp xã hội cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào DTTS, trong đó bao gồm có giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin.

Trụ cột chủ yếu và phổ quát là BHXH (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp, BH TNLĐ-BNN) và BHYT (từ năm 2015 theo quy định BHYT bắt buộc). Tiếp theo đó là các nhóm chính sách về việc làm, giảm nghèo, bảo trợ xã hội. Đối với Việt Nam, còn phải kể đến chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng.

Về tổng quát, đến thời điểm này, chúng ta đã bao phủ hơn 17 triệu đối tượng tham gia BHXH (trong đó có hơn 1,4 triệu người tham gia BHXH tự nguyện) và hơn 14,2 triệu đối tượng tham gia BH thất nghiệp. Về BHYT đã bao phủ khoảng 90 triệu người- đạt tỷ lệ bao phủ hơn 90% dân số. Nhóm các chính sách bảo trợ xã hội bao phủ khoảng 3,5 triệu người. Hiện tại, có hơn 2 triệu người hưởng lương hưu, chế độ phụ cấp hằng tháng do quỹ BHXH chi trả, hơn 1 triệu người hưởng lương hưu, chế độ phụ cấp hằng tháng do NSNN chi trả. Các chính sách giảm nghèo đã chuyển sang tiếp cận đa chiều và thực chất đang bao phủ 2 nhóm đối tượng là hộ nghèo và hộ cận nghèo (khoảng hơn 9% tổng số hộ gia đình- tức khoảng 2,5 triệu hộ- tương đương gần 10 triệu người). Các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng đang được thực hiện đối với khoảng 1,2 triệu người…

Qua đó cho thấy tổng thể chính sách an sinh xã hội ở nước ta đã bao phủ khá lớn dân số, theo đúng mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 15-NQ/TW về “tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”.

Cũng phải nhấn mạnh rằng, nhóm chính sách cơ bản nhất trong an sinh xã hội thường được nhắc đến như những trụ cột chính và lâu dài chính là BHXH, BHYT. Đối với BHXH, tỷ lệ bao phủ so với lực lượng lao động trong độ tuổi còn khá khiêm tốn (chỉ hơn 37%). Như vậy, vẫn còn một nhóm khá lớn NLĐ chưa tham gia BHXH và chủ yếu trong lĩnh vực phi chính thức. Đây cũng chính là thách thức lớn trong bảo đảm an sinh xã hội bền vững ở nước ta và trong phát triển đối tượng tham gia BHXH nói riêng.

Các chính sách an sinh xã hội, nhất là BHXH đã giúp cho NLĐ có cuộc sống tối thiểu, ổn định, bù đắp những khó khăn nhất định khi NLĐ nghỉ hưu, góp phần bảo đảm lưới an sinh cho xã hội. Các nhóm chính sách bảo trợ xã hội giúp cho người có hoàn cảnh khó khăn, người yếu thế, bảo đảm một phần cuộc sống. Các chính sách giảm nghèo hỗ trợ cho người nghèo thoát nghèo và vươn lên. Chính sách BHYT phát huy vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng gia tăng và giảm chi phí khi đi KCB cho người dân; đồng thời cũng giúp người dân tiếp cận các dịch vụ y tế tốt hơn, góp phần giúp những người khó khăn khi ốm đau giảm thiểu rủi ro, tránh tình trạng nghèo hóa.

Vai trò của an sinh xã hội nói chung ai cũng đã biết, đó là góp phần quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập, duy trì mức sống tối thiểu, căn bản cho người dân, giúp hỗ trợ thúc đẩy phát triển thị trường lao động, việc làm bền vững hơn. Đặc biệt, qua đại dịch COVID-19 còn cho thấy vai trò hỗ trợ người dân vượt qua khủng hoảng…

* Mấy năm qua, đại dịch COVID-19 gây ra những hệ lụy chưa từng có tiền lệ. Trong bối cảnh đó, ngành BHXH Việt Nam đã chung tay cùng các ngành liên quan nỗ lực thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội nói chung và các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ nói riêng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân, NLĐ. Vậy, ông nhận định thế nào về vai trò của ngành BHXH Việt Nam trong thực hiện các chính sách này?

- Có thể nói, đại dịch COVID-19 chưa từng có tiền lệ, nên trong suốt 3 năm qua, Quốc hội, Ủy ban TVQH, Chính phủ và chính quyền các địa phương đã nỗ lực cao nhất để kịp thời ban hành nhiều chính sách ứng phó với đại dịch, cũng như hỗ trợ về tài khóa, tiền tệ và an sinh xã hội giúp người dân, NLĐ và DN vượt qua thời khắc khó khăn nhất. Đáng chú ý, trọng tâm là một số chính sách hỗ trợ mà BHXH Việt Nam là cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện như:

Thứ nhất, thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP: Chính sách giảm mức đóng vào quỹ BH TNLĐ-BNN bằng 0% cho hơn 376 nghìn đơn vị SDLĐ (tương ứng với hơn 11 triệu NLĐ) và số tiền được giảm đóng hơn 3.000 tỷ đồng- được áp dụng trong 12 tháng (từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022). Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất áp dụng đối với gần 3.000 đơn vị SDLĐ (tương ứng gần 400.000 NLĐ) và số tiền giảm đóng khoảng 2.000 tỷ đồng.

Thứ hai, thực hiện Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 của Ủy ban TVQH về hỗ trợ NLĐ và DN gặp khó khăn từ quỹ BH thất nghiệp: Toàn ngành BHXH Việt Nam đã thực hiện chi trả cho hơn 13 triệu NLĐ với số tiền hơn 31 nghìn tỷ đồng; giảm đóng BH thất nghiệp đối với gần 350.000 đơn vị SDLĐ (tương ứng với khoảng 12 triệu NLĐ) và số tiền ước hơn 9.000 tỷ đồng.

Thứ ba, thực hiện Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg về hỗ trợ 3 tháng tiền thuê nhà cho hơn 5 triệu NLĐ với số tiền hơn 4.000 tỷ đồng.

Điểm đáng lưu ý, đó là hơn 99% đối tượng được chi trả các chế độ qua tài khoản cá nhân- điều chưa từng một đơn vị nào làm được từ trước đến nay. Qua đó, đã cho thấy hiệu quả của công tác ứng dụng CNTT và chuyển đổi số của ngành BHXH Việt Nam.

Đối với công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH, dù có nhiều khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, song tính đến tháng 11/2022, đã có trên 17 triệu người tham gia BHXH, trong đó có hơn 1,4 triệu người tham gia BHXH tự nguyện và hơn 14,2 triệu người tham gia BH thất nghiệp. Đối với BHYT, đã bao phủ hơn 90% dân số và hằng năm bảo đảm chi trả chi phí KCB BHYT cho trên 100 triệu lượt người.

Nếu chỉ tính trong giai đoạn 2016-2021, số người tham gia BHXH tại thời điểm cuối năm 2021 tăng thêm được hơn 4,2 triệu người (bình quân khoảng 704,8 nghìn người/năm); số người tham gia BHXH bắt buộc phát triển thêm được khoảng gần 3 triệu người (bình quân khoảng 499,5 nghìn người/năm); số người tham gia BHXH tự nguyện phát triển thêm được hơn 1,2 triệu người (bình quân 205,3 nghìn người/năm)- đạt khoảng 2,9% lực lượng lao động trong độ tuổi (vượt xa chỉ tiêu kế hoạch đề ra năm 2021 (1%) và vượt cả mục tiêu đến năm 2025 (2,5%) của Nghị quyết số 28-NQ/TW; số người tham gia BH thất nghiệp phát triển thêm được gần 3,1 triệu người (bình quân 515,8 nghìn người/năm); số đơn vị tham gia BHXH đã tăng thêm được khoảng 300 nghìn đơn vị.

Cùng với đó, theo luật định, trong 6 năm (2016-2021), BHXH Việt Nam đã chủ trì và phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra tại gần 120 nghìn đơn vị và đã ban hành 2.653 quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trong toàn Ngành) với số tiền xử phạt là 112,2 tỷ đồng. Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện hơn 415 nghìn NLĐ chưa tham gia, đóng thiếu thời gian, đóng thiếu mức quy định với số tiền phải truy thu hơn 1.008 tỷ đồng, đã thu được 939,659 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 93%).

Công tác thanh tra, kiểm tra đã góp phần đáng kể làm thay đổi nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật BHXH, BHYT, góp phần bảo đảm chế độ, quyền lợi cho NLĐ. Đặc biệt, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra được cải thiện rõ rệt, số tiền chậm đóng BHXH, BHYT của các đơn vị đã khắc phục sau khi thanh tra, kiểm tra có tỷ lệ tăng đều qua các năm (năm 2017 đạt 53,29%; năm 2018 đạt 57,06%; năm 2019 đạt 71,85%; năm 2020 đạt 80,31% và năm 2021 đạt 74,16%). Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn và vượt bậc của toàn ngành BHXH Việt Nam và chính quyền các địa phương.

* Theo ông, ngành BHXH Việt Nam cần phải tiếp tục làm như thế nào để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, nhất là để nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số hiện nay?

- Chuyên nghiệp hơn và đa dạng các hình thức phục vụ, lấy người dân, NLĐ và DN là trung tâm phục vụ chính là trọng tâm thành công của công tác phục vụ trong toàn ngành BHXH Việt Nam. Để bảo đảm công tác phục vụ được chu toàn, ngành BHXH Việt Nam đã dịch vụ hóa toàn bộ công tác chi trả các chế độ thông qua hệ thống Bưu điện; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng CNTT và đã gặt hái thành công lớn.

Tính đến nay, 5 điểm nhấn cần được nhắc đến đối với Ngành, đó là: Bộ TTHC được cắt giảm tối đa từ 114 thủ tục (năm 2015) xuống còn 27 thủ tục (năm 2021), số giờ thực hiện TTHC đối với DN, người dân giảm mạnh từ 335 giờ/năm (năm 2015) xuống còn 147 giờ (năm 2019); đã hoàn thành cung cấp DVC mức độ 4 đối với 25 TTHC của Ngành; công tác chi trả chế độ qua tài khoản cá nhân được đẩy mạnh, nhận được sự ủng hộ và đồng thuận của hầu hết người hưởng chế độ; việc ký hợp đồng cung ứng dịch vụ với Bưu điện và các tổ chức dịch vụ thu đã tạo thuận lợi cho người tham gia và hưởng các chế độ, giúp giảm tải đáng kể khối lượng công việc cho Ngành.

Đặc biệt, ngành BHXH Việt Nam là cơ quan tiên phong trong việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với CSDL quốc gia về dân cư cũng như với các bộ, ngành khác- qua đó thúc đẩy các cơ quan liên quan tăng cường phối hợp, chia sẻ, kết nối thông tin cũng như tăng cường quản lý nhà nước về BHXH. Như vậy, BHXH Việt Nam đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định tại Điều 9 Luật BHXH.

Mặc dù vậy, để tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ và phục vụ tốt hơn, ngành BHXH Việt Nam cần thúc đẩy tính chuyên nghiệp trong công tác phục vụ, sớm xây dựng và thực hiện Đề án cải cách tổ chức bộ máy, để tăng cường và nâng cao chất lượng công tác quản lý, bảo đảm phục vụ người dân, DN.

* Chuyển đổi số và ứng dụng CNTT là bước chuyển mình rõ nét của toàn ngành BHXH Việt Nam, nhằm thực hiện phương châm “rõ người, rõ việc, rõ kết quả, rõ trách nhiệm” mà lãnh đạo BHXH Việt Nam đã đề ra. Ông nhận định thế nào về công tác này của ngành BHXH Việt Nam?

- Có thể dẫn lời Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá: “BHXH Việt Nam là một trong những cơ quan đi đầu trong ứng dụng CNTT; triển khai kịp thời, hiệu quả các DVC trực tuyến, thanh toán điện tử, giao dịch điện tử, liên thông, giải quyết TTHC trên Trục dữ liệu quốc gia, triển khai ứng dụng VssID. Đặc biệt, hệ thống CSDL của ngành BHXH Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả trong các hoạt động phòng chống dịch bệnh thời gian qua”; qua đó để thấy sự thay đổi vượt bậc của Ngành.

Hiện nay, BHXH Việt Nam được giao là đơn vị chủ quản của CSDL quốc gia về bảo hiểm. Đã xây dựng, hoàn thiện kho CSDL của gần như toàn bộ dân số, tương ứng với gần 28 triệu hộ gia đình trên toàn quốc; kết nối liên thông với gần 13.000 cơ sở KCB trong cả nước; có trên 620 nghìn tổ chức, DN sử dụng DVC về BHXH, BHYT trên toàn quốc…

Ngành BHXH Việt Nam cũng luôn đi đầu trong việc kết nối, chia sẻ CSDL với các bộ, ngành; đặc biệt việc chia sẻ dữ liệu đã phát huy vai trò quan trọng trong quá trình phòng chống dịch COVID-19 cũng như thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân, NLĐ, tiêm chủng… Tất cả những điều này thể hiện rõ quyết tâm chuyển đổi số mạnh mẽ và toàn diện của ngành BHXH Việt Nam, để phục vụ người dân, NLĐ và các đơn vị, DN được hiệu quả.

* Xây dựng “văn hóa BHXH” cho mọi người dân, NLĐ là một trong những nhiệm vụ đòi hỏi không chỉ ở nỗ lực của ngành BHXH Việt Nam, mà còn cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Vậy, theo ông, chúng ta cần làm gì để hình thành “văn hóa BHXH”?

- Nhận thức có lẽ vẫn là điểm cần được quan tâm nhất, bởi đây cũng chính là gốc rễ của vấn đề “văn hóa BHXH”. Chỉ khi nào người dân, DN và bộ máy chính quyền các địa phương nhận thức rõ trách nhiệm của mình, coi BHXH là vấn đề mang tính chất sống còn trong việc bảo đảm an sinh xã hội, thì công tác này mới có thể chuyển biến mạnh mẽ hơn.

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu “tự giác tham gia BHXH”, mà đang phải sử dụng khá nhiều cơ chế hành chính, tuyên truyền, vận động để thực hiện chính sách. Để chuyển hóa sang tự giác, đòi hỏi sự thay đổi và thời gian để làm sao cứ tham gia thị trường lao động là NLĐ và đơn vị SDLĐ phải nghĩ ngay đến việc tham gia BHXH.

Tiếp đến là công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến chính sách, pháp luật. Rõ ràng đã đến lúc cần đổi mới công tác này theo hướng chuyên nghiệp hơn, để đo đếm được hiệu quả cụ thể, nhắm đến cả nhóm đối tượng đích cũng như phổ quát.

Ngành BHXH Việt Nam cũng cần thúc đẩy nhanh hơn quá trình đổi mới, sắp xếp mô hình tổ chức bộ máy gắn với chuyển đổi số để đáp ứng với tình hình mới; đồng thời nghiên cứu chiến lược phát triển các hệ thống đại lý chi trả chế độ BHXH, BHYT gắn với việc phát triển đối tượng trong bối cảnh các DN ngày càng có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, sử dụng ít lao động hơn so với trước đây.

Ngoài ra, ngành BHXH Việt Nam cũng cần chủ động, tích cực chuẩn bị các nội dung, bằng chứng để tham gia quá trình sửa đổi Luật BHXH. Đặc biệt, nhằm định hình khung pháp lý cho các hoạt động thực tế của Ngành, chúng ta cần phải luật hóa trong việc thực hiện mục tiêu BHXH toàn dân.

* Trân trọng cám ơn ông!

Vũ Thu (Thực hiện)

Đồ hoạ: Thanh An


Viết bình luận
Bình luận mới
BHXH, BHYT- “Lưới an sinh” quan trọng hỗ trợ người dân

BHXH, BHYT- “Lưới an sinh” quan trọng hỗ trợ người dân

Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, thì chính sách BHXH, BHYT được ví như tấm “lưới an sinh” quan trọng hỗ trợ người dân vượt qua các rủi ro trong cuộc sống.

Bền bỉ đồng hành cùng NLĐ

Bền bỉ đồng hành cùng NLĐ

Năm 2022 đánh dấu sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả giữa Công đoàn các cấp với ngành BHXH Việt Nam. Đặc biệt, sự phối hợp này đã giúp ngành BHXH Việt Nam triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ từ quỹ BHXH, BH thất nghiệp cho NLĐ và chủ SDLĐ theo các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ.

Nỗ lực tạo dựng “hệ giá trị” về an sinh

Nỗ lực tạo dựng “hệ giá trị” về an sinh

BHXH là một thiết chế an sinh, một giá trị phổ quát của nhân loại. Do đó, bên cạnh kế thừa và phát huy truyền thống, chúng ta cũng cần hình thành “văn hoá BHXH” phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…- ông Lâm Văn Đoan- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh.

Ngày Xuân nói chuyện

Ngày Xuân nói chuyện "văn hoá BHXH"

Tham gia BHXH, BHYT không chỉ là trách nhiệm với chính bản thân, mà còn là trách nhiệm xã hội của mỗi công dân, DN với đất nước. Điều này thể hiện đúng tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; đồng thời cũng là thể hiện “văn hóa BHXH”...